Fri, 09 / 2018 9:04 am | admin

Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh

(Bài văn phân tích của bạn Phạm Minh Anh lớp 11A5 trường THPT Trần Phú)

BÀI LÀM

Hồ Chí Minh là một nhà làm nghệ thuật vĩ đại, không chỉ nổi tiếng ở mảng thơ và văn xuôi cũng vô cùng nổi bật. Tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh Đạt đến được coi là một “áng” văn chương mẫu mực của thời đại khi toàn diện thể hiện giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật xuất sắc nhất.

“Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện chính trị, lịch sử. Đối với dân tộc Việt Nam, nó đã khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc, tư thế và chủ quyền của nhân dân, bày tỏ ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền ấy. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy…”. Bản tuyên ngôn tuy do một người soạn thảo, một người đọc nhưng lại là đại diện cho tiếng nói của quốc gia, của cả một chính phủ. Tác giả đã sử dụng đại từ nhân xưng “chúng tôi”, “lâm thời chính phủ nước của nước Việt Nam mới”, “đại biểu cho toàn dân Việt Nam”, “tuyên bố”, “toàn dân Việt Nam trên dưới một lòng”… Do đó, về hình thức đây là một văn kiện quốc gia.

Loading...

phân tích tác phẩm tuyên ngôn độc lập của hồ chí minh

Bản tuyên ngôn còn là áng văn chương mẫu mực của thời đại. Xét về hình thức tác phẩm thuộc thể văn chính luận mà đặc trưng của văn chính luận là hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng thuyết phục. Tác giả không chỉ đưa ra lời tuyên bố thuần túy mà diễn giải có nguồn gốc và cơ sở. Nguồn gốc mà để có ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1945 là do nhân dân ta đã phải làm Tổng khởi nghĩa nghĩa, cướp chính quyền từ tay Thực dân đế quốc, con đường của dân tộc đang đứng trước biết bao thử thách, bởi vậy Hồ Chí Minh phải đứng ra tranh luận, phản bác lại luận điệu phủ nhận quyền độc lập tự do khó khăn lắm mới giành được này. Hồ Chí Minh đã xây dựng một cơ sở pháp lý của chủ quyền dân tộc Việt Nam bằng cách nhắc đến hai văn kiện “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của nước Pháp. Từ những nguyên tắc trong hai văn bản, Hồ Chí Minh đã suy rộng ra “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Lẽ phải ấy không phải do người Việt Nam tự nghĩ ra mà do chính các nước lớn tự xác lập. Còn khi lập luận đưa ra cơ sở thực tế của chủ quyền dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh đã chứng minh bằng cách chứng minh ngược. Tác giả đã nhắc lại hành động của thực dân Pháp chiếm lấy đất nước ta trên 80 năm và hiện giờ đang lăm le tái chiến. Để dọn đường cho cuộc xâm lược mới, Pháp chuẩn bị dư luận, rêu giao về quyền của chúng ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung. Tác giả đã vạch trần những tội ác, sự xảo trá về chính trị, kinh tế, văn hóa bằng những dẫn chứng thuyết phục để rồi kết luận: Pháp là quốc gia nằm trong khối Đồng Minh nhưng lại phản bội Đồng Minh, còn nhân dân Việt Nam tự nguyện đứng về phe Đồng Minh, đánh đuổi kẻ thù chung là phát xít Nhật. Như vậy, dân ta giành lại chính quyền từ tay Nhật và tự đánh đổ xiềng xích thực dân lấy lại chế độ quân chủ. Vậy Pháp có quyền gì ở Việt Nam? Cuối cùng, tác giả đưa ra tuyên bố Độc lập bao gồm “thoát li”, “công nhận” và khẳng định.

Tóm lại, tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh không chỉ là bản án kết tội thực dân Pháp, khẳng định hùng hồn tư thế và chủ quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn xuất sắc thành công khi thể hiện thể văn chính luận với hệ thống lập luận chặt chẽ, tình cảm nồng nhiệt, ngôn từ điêu luyện. Những lời tuyên bố mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc năm đó vẫn còn vang vọng trong lòng người chứng kiến và trong lòng cả lớp trẻ dù không chứng kiến nhưng chưa bao giờ thôi tự hào.

>>> XEM THÊM :

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục