Thu, 10 / 2018 8:48 am | admin

Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến

(Văn mẫu lớp 10) – Em hãy phân tích bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến

(Bài văn phân tích của bạn Trần Thu Thủy lớp 10A1 trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam).

BÀI LÀM

Cụ “Tam Nguyên Yên Đổ” – Nguyễn Khuyến đỗ đầu cả ba kì thi Hương – Hội – Đình tiếng thơm lẫy lừng nhưng cuối đời phải bó gối nơi quê nhà, bên thiên nhiên đồng nội. Điều gì ẩn chứa sau câu chuyện này? Đọc “Thu điếu” – “Thu ẩm” – “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến, tôi bỗng nhiên bắt gặp câu trả lời. Trong đó, bài thơ “Thu điếu” (“Câu cá mùa thu”) của Nguyễn Khuyến vừa thể hiện bức tranh mùa thu độc đáo vừa cho thấy tâm sự của nhà thơ về cuộc đời.

Loading...

Bài thơ “Thu điếu” là một sáng tác nổi bật của Nguyễn Khuyến trong thời gian nhà thơ về ở ẩn. Bài thơ bắt đầu từ cảnh “ao thu” vắng lặng và hiện ra dưới những ngôn từ mới mẻ, thú vị:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Chỉ tả mặt ao thu thôi mà tác giả dùng tới 4 từ miêu tả gồm “lạnh lẽo”, “trong veo”, “sóng biếc” và “gợn tí” và tất cả các từ này đều tập trung thể hiện sự cô độc, lạnh lẽo, vắng lặng. Quả thật, mùa thu có những đợt không khí lạnh tràn về khiến không khí mát mẻ hoặc hơi se lạnh. Từ “lạnh lẽo” dường như đang nói tới cảm giác trong lòng người. Trời thu nhưng trái tim con người như băng giá, khô cằn sức sống.

Hơn nữa, lòng người còn bình lặng đến lạ thường. Bình lặng nên mặt hồ cũng vắng lặng, trong veo. Như vậy bức tranh thiên nhiên thông qua bức tranh lòng người đã trở nên thay đổi. Bức tranh ao thu không còn đẹp, thơ mộng, dịu dàng mà choáng ngợt nỗi cô độc của lòng người. Đó cũng là lí do mà Nguyễn Khuyến gieo vần “eo” và sử dụng các tính từ “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo”, “hơi gợn tí”, “khẽ đưa vèo”…

phân tích bài thơ thu điếu của nguyễn khuyến

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng bút pháp lấy động tả tĩnh, vẽ thuyền trôi mà như bất động, gọi là rơi mà như đẩy cao trào sự tịnh vắng.

Tác giả có sự chuyển đổi điểm nhìn từ không gian mặt nước tới không gian trời và đất để kiếm tìm sự sống đủ thỏa mãn nỗi cô độc:

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Tuy nhiên, hai câu thơ đã cho câu trả lời là: Không! Bầu trời thu vốn cao rộng nay còn cao rộng gấp bội với từ “tầng” và “ngắt”. Giữa trời cao rộng ấy chỉ có mây:lơ lửng” lạc lõng không biết trôi về đâu, vì mục tiêu gì. Nó như con người cũng đang cô độc không tìm ra lối đi của mình. Dưới ngõ trúc, nơi in đậm dấu chân người nhất, tác giả chỉ cần một vị “khách” nào đó ghé qua nhưng “vắng teo”. Không một ai, kể cả xa lạ.

Tất cả quá xa vời và mênh mông, tác giả trở về “bó gối” với công việc hiện tại: câu cá.

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Ao vắng lặng và trong veo, hẳn sẽ rất khó câu cá. Đó cũng là lí do mà tác giả nói “lâu chẳng được”. Đây là thực tại. Nhưng vì sao tác giả đưa từ “tựa gối ôm cần” lên đầu câu. Có lẽ là để nhấn mạnh vào tâm trạng chính thi nhân. Nhà thơ đang ung dung, vui vẻ tận hưởng thú vui chăng? Không! Đọc câu thơ cuối, ta mới vỡ lẽ. Cảnh thực tại là: không một con cá nào đớp bèo. Còn sâu xa, nhà thơ đang giãi bày lòng mình về hiện thực xã hội. Tuy thi nhân quay lưng với triều đình, chọn cách quy ẩn để phản đối chính quyền thối nát, tuy thi nhân nhàn nhã với cuộc sống nhàn tản nhưng thực tế trong lòng khát khao được làm điều gì đó “động”, làm điều gì đó để thay đổi cục diện bức bối này. Bản thân nhà thơ luôn bế tắc, mệt mỏi.

Tóm lại, bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến đã vẽ lên bức tranh thu độc đáo thông qua hệ thống ngôn ngữ bình dị mà mới lại, độc đáo, giàu sức biểu đạt để từ đó kín đáo bộc lộ tâm sự của mình. Chính lẽ đó mà ta càng cảm phục một con người nhân ái, yêu quê hương tha thiết như Nguyễn Khuyến.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục