Wed, 09 / 2018 8:09 am | admin

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

(Bài văn phân tích của bạn Trần Minh Trang lớp 12A4 trường THPT chuyên Lào Cai).

BÀI LÀM

Huế thâm trầm và mộng mơ ngấm vào tâm hồn một Nguyễn Khoa Điềm để rồi vang lên những vần thơ thật đẹp. Thơ Nguyễn Khoa Điềm đằm đằm, ấm ấm, thoáng chút mơ hồ bí ẩn mà vẫn đầy triết lý. Hơn nữa, thi sĩ luôn gửi gắm những tư tưởng sống hết sức tiến bộ sau mỗi tác phẩm của mình. Những điều ấy phản ánh sâu sắc trong bài thơ “Đất Nước”. 

Bài thơ “Đất Nước” thuộc chương V trong tổng số 9 chương của trường ca “Mặt đường khát vọng”. Trường ca là một thể loại thơ nhưng có cốt truyện, giàu chất tự sự. Chính điều này đã khiến tác phẩm tựa như áng sử thi bằng thơ tự do. Tác phẩm ra đời nhằm mục đích cổ vũ phong trào cách mạng ở miền Nam 1971 và thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ cuộc sống thực dụng, tư tưởng nô dịch đế quốc để hòa vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Bài thơ “Đất Nước” là cách định nghĩa mới mẻ và độc đáo của nhà thơ về đất nước. Qua đó tác giả thể hiện tư tưởng sống tiến bộ. 

Loading...

Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa lại về đất nước và thể hiện những cảm nhận rất mới mẻ. Ở đó, tác giả đã lần lượt trả lời các câu hỏi như: Đất nước là gì?, Đất nước có từ bao giờ?, Ai đã làm nên đất nước?,… rồi qua đó nhắc nhở về trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nước. Khi trả lời câu hỏi, Nguyễn Khoa Điềm đã cất công xem xét nhiều yếu tố, nhiều góc độ khác nhau. 

Trước hết, tác giả đi trả lời câu hỏi “Đất nước có từ bao giờ”? Nhìn vào các câu chuyện văn hóa dân gian cổ xưa để khẳng định đất nước có từ rất lâu đời:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”

 Bên cạnh đó, đất nước hiện hữu trong những điều nhỏ nhặt, bình dị nhất. Từ những người thân thuộc là mẹ, cha, ông bà… đến những phong tục như tục ăn trầu, tục phụ nữ “bới” tóc, tục đặt tên con cho dễ nuôi… Đặc biệt, đất nước còn gắn với những truyền thống dân tộc như trồng tre đánh giặc cứu nước, ân nghĩa thủy chung của cha mẹ, lao động sản xuất lúa gạo,… Với giọng thơ trầm lắng cùng hình ảnh gần gũi, Nguyễn Khoa Điềm như đang thủ thỉ với chúng ta về cái “ngày xửa ngày xưa” thật đẹp.

phân tích bài thơ đất nước

Thứ hai, “đất nước là gì?”, nhà thơ tiếp tục chứng minh. Từ góc độ địa lí, đất nước là thứ gì đó vừa gần gũi ở “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm” lại vừa mênh mông trong “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” và “con cá ngư ông móng nước biển khơi”. Từ cái nhìn lịch sử, văn hóa, đất nước là sự hợp thành của “Lạc Long Quân và  u Cơ” cùng bao đời Hùng Vương. Thế nên mới có “ngày giỗ Tổ”. Cách chia tách “Đất Nước” thành hai thành tố “Đất là… Nước là…” để định nghĩa của Nguyễn Khoa Điềm thật mới mẻ.

Từ những nội dung trên, nhà thơ đi đến khẳng định trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”

Tác giả liên tục nhấn mạnh “phải biết” giống như lời giáo huấn chân thành: phải biết ơn nguồn cội, phải đoàn kết, giữ gìn và có trách nhiệm cống hiến cho đất nước. 

Sau khi định nghĩa về đất nước, nhà thơ đã thể hiện cụ thể tư tưởng đất nước của nhân dân. Cũng từ nhiều góc độ, Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra các quan điểm khác nhau. 

Từ phương diện địa lí, nhà thơ khẳng định đất nước do chính con người hóa thân vào:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

Những cuộc đời của “cặp vợ chồng yêu nhau”, Thánh Gióng, Hùng Vương, con voi, con rồng, người học trò nghèo, con cóc, con gà, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… đã tạc vào dáng hình non sông xứ sở. Từ đó, nó hình thành các cái tên hòn Trống Mái, ao đầm, sông núi, gò bãi…

Từ phương diện lịch sử, đất nước do hàng ngàn lớp thế hệ nhân dân chiến đấu bảo vệ và lưu truyền:

“Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”
Còn ở góc độ văn hóa:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái”

Tác giả đã liệt kê ra hàng loạt những thực thể chính là các lớp thế hệ nhân dân nối tiếp nhau để lại nền văn hóa nông nghiệp, giọng nói, tên làng xã… và cả truyền thống, phong tục, đạo đức tốt đẹp. Như vậy, đất nước chính từ tinh thần và vật chất con người làm nên. 

Cuối cùng, nhà thơ khẳng định:
“Ôi những dòng sông bắt nước từ lâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

Vậy là những dòng sông – biểu tượng cho thiên nhiên Việt Nam như mang linh hồn con người. Nó chứa lòng yêu đời, tinh thần lạc quan và cả tình yêu lao động. Đó phải chăng là những điều đáng quý nhất trong vẻ đẹp muôn màu của đất nước?

Có thể thấy trong bài thơ “Đất Nước” Nguyễn Khoa Điềm đã huy động kho tàng tri thức phong phú vừa tổng hợp vừa cụ thể cùng việc sử dụng thi liệu dân gian nhuần nhuyễn, sáng tạo. Qua tác phẩm, nhà thơ bộc lộ tư tưởng, tình yêu đất nước và thức tỉnh thế hệ trẻ. Bài thơ không chỉ có giá trị đương thời mà còn mãi giá trị tới ngay nay.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục