Thu, 10 / 2018 8:29 am | admin

Bình giảng bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến

(Văn mẫu lớp 10) – Em hãy bình giảng bài thơ “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến

(Bài văn phân tích của một bạn học sinh giỏi văn cấp ba trường THPT chuyên tỉnh Nghệ An)

BÀI LÀM

“Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người đọc bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới, về những điều, những việc ai cũng biết cả rồi”, ai đó đã nói như vậy. Viết về mùa thu quen thuộc, nhưng mỗi thi sĩ luôn có cách thể hiện riêng. Chùm ba bài thơ thu Thu điếu – Thu ẩm – Thu vịnh của Nguyễn Khuyến đã cho thấy ba bức tranh thu hoàn toàn khác biệt, đầy mới mẻ và thú vị. Trong đó, tôi thích nhất bài thơ “Thu Vịnh”.

Loading...

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc ánh trăng vào.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”

Bức tranh mùa thu trong “Thu vịnh” có nhiều nét khác biệt với “Thu điếu” và “Thu ẩm” bởi nó bắt đầu bằng khung cảnh thiên nhiên đẹp vừa cao rộng vừa có chút gió se lạnh rất đặc trưng của mùa thu.

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”

Bầu trời xanh ngắt, cao rộng như muôn trùng được lột tả thông qua từ “xanh ngắt” và “mấy tầng cao”. Thu tràn trong mọi không gian và đọng trên cành trúc. Gió thu hiu hiu thổi qua kẽ lá, lay nhẹ cành trúc gợi cảm giác vắng lặng. Từ “lơ phơ” rất độc đáo. Thay vì dùng từ “lơ thơ”, tác giả nói “lơ phơ” vừa nhất mạnh sự ít ỏi vừa tạo cảm khác mông lung, rỗng tuếch của không gian.

bình giảng bài thơ thu vịnh của nguyễn khuyến

Bức tranh thiên nhiên dưới ao thu càng đặc trưng hơn:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc ánh trăng vào.”

Màu “nước biếc” là màu nước đặc trưng của nước mùa thu. Dòng nước mùa thu yên bình, phẳng lặng, trong vắt tới mức in bóng màu xanh của trời. Trời càng xanh “ngắt” thì nước càng “biếc”. Tác giả ví nó như “tầng khói phủ” tức là hình ảnh phản chiếu ấy như màn ảo ảnh mỏng nhẹ giăng trên mặt nước. Bức tranh càng thi vị hơn khi xuất hiện ánh trăng về đêm. Đêm về, ánh trăng thu vằng vặc qua cánh cửa sổ chiếu sáng chiếc giường, người nằm đó thao thức ngắm trăng, nghĩ ngợi. Đây là cảnh tượng quen thuộc ở bất kì làng quê nào. Hình ảnh “song thưa” và “ánh trăng” giúp cho ý thơ thanh thoát, sáng trong.

Bức tranh thiên nhiên tưởng chừng như không gì khuấy động, không gì làm nó nhạt nhòa dường như đang bắt đầu bị chi phối bởi cảm xúc. Tất cả các hình ảnh trời, nước, cây cối, trăng sao… đều rất đậm, sáng và tươi thì đến hai câu thơ tiếp lại có chút nao lòng, mờ mờ một nỗi niềm buồn phiền khó hiểu:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”

Câu trên có hình ảnh “Hoa năm ngoái” nở, năm nay lại nở, nó lặp lại y nguyên như lẽ hiển nhiên của cuộc sống. Câu dưới là hình ảnh “ngỗng nước nào?” đang loay hoay tìm kiếm mình, tiếng ngỗng không còn tìm ra lối đi của nó. Phía trên vẫn y vậy, phía dưới đã đổi thay, kết hợp với câu hỏi tu từ dạng phủ định, điều này đã tế nhị tạo ra sự đối lập từ đó khẳng định sự lạc lòng của con người khi không còn thấy quê hương nữa. Mặt khác, từ “mấy chùm” và “một tiếng” đảo lên đầu thể hiện vị thế cô độc tuyệt đối của tâm trạng con người. Hóa thân trong tiếng ngỗng dỏng cổ gọi tiếng quê hương trong tuyệt vọng, có lẽ đây cũng là tâm thế chung của nhiều trí thức bấy giờ khi mà họ phải chứng kiến đất nước đang suy vong.

Cuối cùng, chân dung con người cũng lộ rõ:

“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”

Người viết thừa lúc “nhân hứng” (nhân dịp có hứng) để “toan cất bút” viết thơ nhưng “nghĩ ra” (suy nghĩ kĩ) lại chùn bước mà thôi viết. Lí do là “thẹn với ông Đào”. Ông Đào ở đây chính là Đào Tiềm – một thi sĩ tài năng, tấm lòng trong sáng, nhân cách cứng cỏi. Tác giả tự thấy bản thân chưa đủ khí phách như Đào Tiềm nên khiêm tốn không thể viết lên vần thơ yêu nước. Nguyễn Khuyến là người “lực bất tòng tâm” với xã hội đương thời nên cáo quan về ở ẩn. Nguyễn Khuyến có tấm lòng yêu nước thương dân bao la nhưng không có sức mạnh để cải thiện chế độ đương thời nên đành gửi hồn mình cho thiên nhiên. Nhưng chính tấm lòng đó càng khiến cho nhà văn đẹp hơn trong mắt người đời.

Tóm lại, bài thơ “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến mang đến bức tranh thu vừa đẹp vừa đặc trưng thông qua ngôn ngữ giản dị, diễn đạt sáng tạo, hình ảnh giàu biểu cảm. Bài thơ là minh chứng cho tình yêu thiên nhiên, đất nước của nhà thơ.

>>> XEM THÊM : 

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục